Yamamoto Isoroku – 1 trong 10 viên tướng xuất sắc nhất lịch sử quân sự thế giới

Yamamoto Isoroku (kanji: 山本五十六, Hán Việt: Sơn Bản Ngũ Thập Lục; 4 tháng 4 năm 1884 – 18 tháng 4 năm 1943) là một đô đốc tài ba của Hải quân đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Người ta nhớ nhiều tới ông vì thành tích tấn công hạm đội Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng. Ông được sách Thập Đại Tùng Thư – 10 Đại tướng Soái Thế giới coi là một trong 10 viên tướng xuất sắc nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Ông cũng cùng với Đô đốc Togo Heihachiro, người đập tan hạm đội Nga ở trận Hải chiến Tsushima năm 1905 được hưởng vinh dự làm lễ quốc tang khi qua đời.

Yamamoto Isoroku thời trẻ
  1. Thân thế

Tên thật của ông là Takano Isoroku (高野五十六, Cao Dã Ngũ Thập Lục), quê ở Nagaoka, Niigata; ông là con trai thứ sáu của Takano Sadayoshi (高野 貞吉, Cao Dã Trinh Cát) – một samurai cấp thấp đồng thời giữ chức giáo học cho phiên chủ phiên Nagaoka. Do Takano Sadayoshi sinh ông lúc 56 tuổi nên ông được gọi là Isoroku (Ngũ Thập Lục).

Isokoru ngay từ nhỏ đã được gia đình giáo dục rất nghiêm khắc, thấm nhuần tinh thần võ sĩ đạo truyền thống của Nhật Bản. Năm 1901 sau khi tốt nghiệp bậc trung học, Isokoru với thành tích hạng hai đã thi đậu vào trường sĩ quan đảo Giang Điền, nơi đào tạo các sĩ quan hải quân của Nhật Bản. Khi trưởng thành, Yamamoto thi đậu hạng nhì trong số 300 học sinh và được vào học tại Trường Hải quân nhật tại Etajima. Sau khi tốt nghiệp, ông được điều động phục vụ trên thiết giáp hạm Nisshin và có vinh dự được tham gia trận Tsushima năm 1905, nơi mà Hải quân Nhật đã nhấn chìm toàn bộ hạm đội của Nga và kết thúc chiến tranh Nga-Nhật.

Năm 1916 ông trở về nhà. Năm 1924, ông vào đại học Hải quân. Đồng thời, dòng họ Yamamoto (Sơn Bản) danh tiếng ở phiên Nagaoka do không có con thừa kế nên nhận Isokoru làm con nuôi (1926), vì vậy ông đổi tên là Yamamoto Isoroku (Sơn Bản Ngũ Thập Lục). Vợ ông là Reiko (Thiên Đại Tử), con gái một trại chủ bò sữa; hai người kết hôn năm 1918 và có 4 mặt con.

  1. Cải cách Hải quân

Một trong những công lao to lớn của Yamamoto Isokoru đối với nền quân sự Nhật Bản cũng như nghệ thuật quân sự thế giới chính là ông đã phát hiện ra vai trò tối quan trong của lực lượng không quân và hàng không mẫu hạm trong hải chiến hiện đại. Ngay từ năm 1915, ông đã có những tiên đoán rất chính xác khi cho rằng “Chiến hạm quan trọng nhất trong tương lai là loại chiến hạm mang theo được phi cơ“.

Tháng 4 năm 1919, ông được cử giữ chức sĩ quan ngoại giao của tòa đại sứ Nhật. Trong thời gian này ông nhanh chóng tiếp xúc và nắm bắt được những dòng tư tưởng về việc sử dụng không quân trong nghệ thuật quân sự (dù các dòng tư tưởng ấy vẫn còn là thiểu số). Tháng 6/1923, khi cùng với đại tướng Tỉnh Xuất đi khảo sát ở Mỹ và các quốc gia Tây phương, Yamamoto càng kiên định quan điểm của mình. Năm 1921, khi trở về, ông đã góp phần xây dựng lực lượng tàu sân bay của Nhật Bản.

Năm 1928 ông được bổ nhiệm làm hạm trưởng hạm Isuzu. Năm 1929, được thăng hàm thiếu tướng, chuẩn đô đốc. Năm 1930 ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Kỹ thuật Hàng không hải quân. Và, ngay từ lúc này, ông đã lợi dụng địa vị mới của mình, tập trung mọi sức mạnh phát triển bộ đội không quân và hàng không mẫu hạm Nhật, nhất là việc nâng cao kỹ thuật phi cơ.

Đô đốc Yamamoto Isoroku (ngoài cùng bên trái) cùng một nhân viên của mình trong cuộc gặp Tư lệnh Jackson về việc tổ chức một hội nghị hải quân thế giới tại Southampton vào năm 1935.

Năm 1936, ông làm thứ trưởng Bộ Hải quân theo lời mời của hải quân đại thần Vĩnh Dã Thân. Tuy nhiên, công việc sự vụ này hoàn toàn không phù hợp với một quân nhân và một người đang dốc sức xây dựng ngành hàng không hải quân như Yamamoto. Cuối cùng ngày 31 tháng 8 năm 1939 ông lại được cử giữ chức tư lệnh hạm đội liên hậm kiêm tư lệnh đệ Nhất hạm đội đúng như sở trường của mình. Năm 1940, ông được thăng hàm đại tướng, đô đốc. Vừa đáo nhiệm là ông lập tức sắp xếp hàng loạt những cuộc huấn luyện nghiêm ngặt và căng thẳng như khi chiến đấu thật sự. Yamamoto hiểu rằng, ông cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng cho một cuộc chiến ác liệt sắp tới.

  1. Chiến tranh thế giới thứ hai

Trước chiến tranh

Kể từ chiến tranh Nga Nhật 1904, Nhật Bản đã thay thế Nga làm bá chủ khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và càng ngày càng mở rộng ảnh hưởng của mình. Yamamoto đã tham dự Hội nghị Hải quân Luân Đôn về vấn đề tài giảm binh bị với tư cách là một thành viên trong phái đoàn Nhật vào các năm 1930 và 1934. Nhưng cuộc đàm phán tan vỡ và tháng 1 năm 1936 Nhật rút khỏi Hội Quốc Liên, thoát khỏi thời đại hạn chế.

Sau khi Đức-Ý-Nhật ký hiệp ước liên minh (30 tháng 9 năm 1941), mọi người hiểu rằng lò lửa chiến tranh sắp nổ và Nhật, Mỹ sẽ là hai đối thủ nặng ký trong cuộc chiến sắp tới. Từng du học ở Mỹ, từng tiến hành khảo sát tại Mỹ và từng giữ chức võ quan trú đóng tại Mỹ (1926-28), nên ông hiểu rõ thực lực của Mỹ, ông biết rằng Nhật khi khai chiến với Mỹ thì lành ít dữ nhiều. Chính vì vậy, kế hoạch tập kích Trân Châu Cảng dần dần hình thành trong đầu óc ông.

Trận Trân Châu Cảng

Mục tiêu đầu tiên của Yamamoto chính là Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng thuộc quần đảo Hawaii. Kế hoạch của Yamamoto lập tức gặp sự phản đối quyết liệt. Tuy nhiên Yamamoto vẫn duy trì ý kiến của mình một cách ngoan cố. Trong khi đó, dù quan hệ Nhật-Mỹ ngày một căng thẳng, các cuộc đàm phán đôi bên vẫn được tiếp tục. Trong khi đó lãnh sự quán Nhật Bản tại đảo Honolulu thuộc quần đảo Hawaii lại liên tục gửi tin tình báo từ Trân Châu Cảng về Nhật. Ngày 19 tháng 10 thì bộ quân lệnh đã phê chuẩn “phương án tác chiến Hawaiian” tổ chức một hạm đội với chủ thể là 6 hàng không mẫu hạm sẽ tiến hành tập kích Trân Châu Cảng.

Lực lượng tập kích được quy tụ ở vịnh Đơn Quân gần đảo Iturup thuộc quần đảo Kuril do trung tướng Nam Vân Trung Nhất chỉ huy. Ngày 1 tháng 12 Yamamoto đánh một bức điện cho Nam Vân nội dung “trèo lên núi cao mới 1208” có nghĩa là sẽ khai chiến vào ngày 8 tháng 12 theo giờ Tokyo, tức ngày chủ nhật 7 tháng 12 theo giờ Trân Châu Cảng. Ông cũng hạ lệnh thời gian tấn công là 3 giờ 30 phút, nửa tiếng sau khi Nhật gửi tối hậu thư tới Mỹ. Trận kỳ tập đã thành công. Phía Mỹ mất 6 thiết giáp hạm, 6 tuần dương hạm hạng nhẹ, 6 khu trục trạm, 2 tàu chở dầu, bị thương 2 thiết giáp hạm và 1 tuần dương hạm hạng nặng. Ngoài ra Mỹ còn mất 300 máy bay chiến đấu, chết 2003 binh sĩ và bị thương 1178 binh sĩ khác. Thiệt hại của quân Nhật rất nhỏ: 29 máy bay, 5 tiềm thủy đĩnh, 2 tàu ngầm, chết không tới một trăm người

  1. Cái chết của Yamamoto Isokoru

Sau những thất bại lớn về chiến lược ở Midway và Guadalcanal, Yamamoto thấy rõ kết cục chiến tranh sẽ bi thảm cho Nhật, điều mà ông từng tiên đoán cách đó gần 2 năm. Sau khi đến Rabaul, Yamamoto đã bắt tay thực hiện một “kế hoạch Y” với mục tiêu là quân Mỹ ở Guadalcanal. Yamamoto bỗng đề xuất sẽ đi thị sát tại 3 hòn đảo gần Guadalcanal để nâng cao sĩ khí. Tuy nhiên, việc đi thị sát như thế này cực kì nguy hiểm và nhiều người đã ngăn cản quyết liệt, hoặc là đề nghị mang theo một số lượng cực lớn phi cơ hộ tống. Tất cả đều không ngăn được quyết tâm của vị thống soái.

Nhà tường niệm Yamamoto Isoroku tại Nagaoka

Có một điều kịch tính là, giống như ở Midway và Guadalcanal, người Mỹ đã giải được bản mật mã về việc Yamamoto đi thị sát và đã tổ chức đón lõng ông. Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 18 tháng 4 năm 1943, khi chiếc máy bay Mitsubishi G4M chở Yamamoto đang trên vùng trời đảo Bounganiville thì một tốp 18 chiếc P-38 Lightning xuất hiện dưới tay phải phi cơ Nhật. 6 chiếc phi cơ Zero hộ tống Yamamoto liền lao tới chặn lại. Tuy nhiên đây là một cuộc chiến đấu không cân sức. Mấy phút sau một bựng khói đen bốc lên từ một khu rừng rậm phía dưới. Phi cơ của Yamamoto Isokoru đã bị bắn hạ. Ông hi sinh vào ngày 18 tháng 4 năm 1943.